Ngày đăng : 01-06-2025
Xác thực thông tin sản phẩm là một biện pháp ngăn chặn tình trạng giả mã vạch
Trên thực tế, đã có những vụ việc hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, từ thực phẩm, mỹ phẩm đến đồ gia dụng, mang mã số mã vạch “hợp lệ”, nhưng lại không liên quan gì đến doanh nghiệp chủ mã gốc. Vụ việc xảy ra tại Thanh Hóa hồi tháng 5/2025 là một ví dụ, sự can thiệp của Công an tỉnh đã bóc trần đường dây sản xuất mỹ phẩm giả, lợi dụng mã vạch thật từ bao bì cũ để tiếp tục phân phối sản phẩm giả ra thị trường. Các đối tượng vi phạm dựa vào uy tín của mã số, mã vạch để “ngụy trang” sản phẩm giả, khiến người tiêu dùng hoàn toàn bị động và mất khả năng phân biệt thật – giả bằng mắt thường hay qua ứng dụng quét mã thông thường..
Sản phẩm quét được mã, nhưng không hiện thông tin trên phần mềm quét mã chính thống
Một lỗ hổng khác đang bị lợi dụng là việc nhiều sản phẩm có gắn mã số, mã vạch nhưng không được kê khai trên Hệ thống cơ sở dữ liệu mã số mã vạch quốc gia (VNPC). Khi người tiêu dùng, cơ quan chức năng quét mã, không truy xuất được thông tin chính thức, dữ liệu hiển thị trống.
Tình trạng này phản ánh một thực tế: nhiều doanh nghiệp sau khi được cấp mã số, mã vạch không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai thông tin sản phẩm theo quy định hoặc cố tình né tránh để không bị “truy xuất”. Từ một công cụ minh bạch hóa, mã vạch đang bị biến thành “lớp áo nguy hiểm” giúp hợp pháp hóa hàng hóa không rõ nguồn gốc – lẫn lộn giữa thật và giả trong các chuỗi phân phối chính thống.
Lạm dụng mã chưa được cấp phép, không thông qua hệ thống quản lý
Thị trường xuất hiện ngày càng nhiều sản phẩm dán mã vạch “tự phát” – tức là mã chưa từng được cấp bởi tổ chức quản lý có thẩm quyền tại Việt Nam (GS1 Việt Nam) và không tồn tại trong bất kỳ hệ thống dữ liệu chính thống nào. Phổ biến ở các sản phẩm hàng hóa bán online, hàng xách tay không rõ xuất xứ hoặc hàng hóa sản xuất không phép.
Đáng lo ngại hơn, một số doanh nghiệp cố tình tạo ra mã số giống cấu trúc mã thật, đánh lừa người tiêu dùng và cả hệ thống phân phối. Trong khi đó, các siêu thị, cửa hàng nhỏ lẻ thường chỉ kiểm tra mã bằng phần mềm nội bộ, không đối chiếu dữ liệu trên VNPC – tạo điều kiện để mã giả “lọt lưới”.
Sử dụng mã nước ngoài không ủy quyền – lỗ hổng pháp lý cần siết chặt
Một hình thức tinh vi hơn là việc doanh nghiệp trong nước sử dụng mã số, mã vạch của nước ngoài nhưng không có bất kỳ giấy tờ ủy quyền, xác thực nào từ chủ sở hữu nước ngoài. Đặc biệt, nhiều mặt hàng nhạy cảm như sữa ngoại, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng cao cấp liên tục bị phát hiện. Điển hình có thể nhắc đến vụ việc hơn 600 loại sữa bị làm giả gắn tem mác mã vạch Mỹ, Úc được phân phối bởi mạng lưới bao gồm 9 công ty với các dòng sữa giả phổ biến như: Cilonmum, Talacmum, Colos 24h Premium, Bold Milk, Sure IQ Sure Gold,….
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực MSMV cảnh báo: “Đây chính là lỗ hổng pháp lý lớn nhất hiện nay. Nếu không được xác thực và kiểm soát, mã vạch nước ngoài có thể trở thành “tấm hộ chiếu giả” giúp hàng hóa lậu, hàng giả nước ngoài xâm nhập thị trường Việt Nam một cách hợp pháp. Trên thực tế, các thương hiệu sữa nhập khẩu nổi tiếng đã nhiều lần bị làm giả tại Việt Nam và rất khó xử lý nếu không có cơ sở xác minh mã gốc.
Giải pháp: Cần đồng bộ công nghệ và pháp lý
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần có bước chuyển rõ ràng trong chính sách quản lý và công nghệ xác thực hàng hóa.
Khôi phục cơ chế kiểm soát mã nước ngoài
Việc bãi bỏ thủ tục xác thực mã nước ngoài như hiện nay đang mở đường cho mã không rõ nguồn gốc “tự do” len lỏi vào thị trường. Các chuyên gia đề xuất cần rà soát và đánh giá lại tác động của Nghị định 13/2022/NĐ-CP, đồng thời khôi phục yêu cầu xác thực mã nước ngoài đối với tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam.
Ngoài ra, cần ban hành hướng dẫn chi tiết về các điều kiện sử dụng mã số nước ngoài trong lưu thông thương mại nội địa, nhằm tăng cường tính minh bạch và ngăn chặn gian lận.
Tăng cường liên kết dữ liệu với hệ thống VNPC
Một trong những khâu quan trọng là bắt buộc các doanh nghiệp sau khi được cấp mã số mã vạch phải kê khai đầy đủ thông tin sản phẩm trên Hệ thống cơ sở dữ liệu mã số mã vạch quốc gia (VNPC). Đồng thời, các đơn vị phân phối như siêu thị, cửa hàng tiện lợi cũng cần kết nối phần mềm bán hàng với VNPC để kiểm tra thông tin chính thống.
Đây không chỉ là công cụ truy xuất, mà còn là “lá chắn” kỹ thuật để ngăn chặn sản phẩm không rõ nguồn gốc được hợp thức hóa nhờ mã vạch.
Khuyến khích sử dụng các công nghệ xác thực hiện đại
Song song với mã vạch truyền thống, Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp xác thực nâng cao như truy xuất nguồn gốc điện tử, tem chống giả thông minh, tích hợp đa lớp bảo mật và khả năng xác minh tức thời qua smartphone.
Mỗi sản phẩm cần có một mã định danh duy nhất, không thể sao chép, và được liên kết với hệ thống dữ liệu xác thực trung tâm – giúp cả người tiêu dùng lẫn nhà phân phối có thể kiểm tra nguồn gốc và độ chính hãng nhanh chóng.
Vai trò then chốt của doanh nghiệp và người tiêu dùng
Hệ thống pháp lý và công nghệ chỉ là một phần của bài toán. Trong cuộc chiến chống hàng giả đội lốt mã thật, mỗi người tiêu dùng tỉnh táo là một “chốt chặn” quan trọng, mỗi doanh nghiệp minh bạch chính là một mắt xích vững chắc trong chuỗi cung ứng tin cậy
Doanh nghiệp minh bạch là nền tảng cho một thị trường lành mạnh. Chỉ khi tất cả các bên cùng hành động, mã số, mã vạch mới thực sự phát huy vai trò là “chứng minh thư tin cậy” của sản phẩm.
Doanh nghiệp cần chủ động minh bạch hóa chuỗi cung ứng, cập nhật dữ liệu đầy đủ trên hệ thống VNPC, sử dụng mã số được cấp phép và phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý khi phát hiện hành vi mạo danh.
Người tiêu dùng cần trang bị kỹ năng kiểm tra mã sản phẩm, biết sử dụng các ứng dụng truy xuất chính thống (Scan and check) thay vì chỉ dựa vào ứng dụng quét mã chung chung không kết nối cơ sở dữ liệu gốc.
Cơ quan quản lý nhà nước cần thường xuyên kiểm tra thị trường, kết hợp dữ liệu từ VNPC để phát hiện sai phạm, đồng thời truyền thông rõ ràng đến cộng đồng về quy chuẩn mã số mã vạch và cách nhận biết vi phạm.
Minh Thu
Bình luận